Thực hành tiết kiệm, giữ nghiêm kỷ cương tài chính

Với dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2019, theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải, đề nghị Chính phủ rà soát, cơ cấu lại một số khoản chi hợp lý, có kế hoạch, biện pháp thực hành tiết kiệm, cắt, giảm những nhiệm vụ chi không cần thiết, tiết giảm mạnh hơn chi ngân sách…

Các đại biểu làm việc tại Hội trường.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, chiều 22/10, các đại biểu Quốc hội nghe các Báo cáo Chính phủ về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương năm 2019; Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH14 về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020; Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020.

Thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã trình bày Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH14 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, triển khai Nghị quyết 24, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tổ chức quán triệt và thực hiện các chủ trương, chính sách về cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Chính phủ đã sớm ban hành Nghị quyết số 27, giao 16 nhiệm vụ và chính sách lớn cần thực thi cho các bộ, ngành, địa phương, với 120 nhiệm vụ cụ thể nhằm đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Thủ tướng Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, do Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng Ban chỉ đạo, Phó Thủ tướng Chính phủ làm Phó trưởng ban thường trực, có chức năng tham mưu, đôn đốc, phối hợp các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và địa phương thực hiện việc cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Các bộ, ngành, địa phương nhìn chung đã thực hiện với trách nhiệm cao và thực chất các chính sách về cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng.

Đánh giá kết quả thực hiện 22 nhóm chỉ tiêu được đặt ra tại Nghị quyết 24 trong giai đoạn 2016 – 2018 cho thấy, so với các mục tiêu đặt ra tới năm 2020, có 9 chỉ tiêu đã hoàn thành; 8 chỉ tiêu có khả năng hoàn thành và 5 chỉ tiêu cần các giải pháp thúc đẩy để hoàn thành. Như vậy, tới thời điểm hiện nay, có 77% số mục tiêu đã hoàn thành hoặc dự kiến hoàn thành.

Mô hình tăng trưởng đã bước đầu chuyển biến theo hướng tích cực, góp phần thực hiện thành công mục tiêu kép là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP, tạo thêm dư địa để thực hiện tốt hơn các nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và đời sống của nhân dân… Đồng thời, chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được cải thiện rõ rệt. Năng suất lao động có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, đồng thời Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Tăng trưởng kinh tế dần dịch chuyển sang chiều sâu, thể hiện ở mức đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng của nền kinh tế ngày một lớn và hiệu quả đầu tư được cải thiện.

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong giai đoạn 2019 – 2020, cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện quyết liệt và thực chất các chính sách và nhiệm vụ cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, phải coi đây là một trọng tâm ưu tiên hàng đầu trong công tác điều hành của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương; và việc hoàn thành các mục tiêu đã đề ra về cơ cấu lại nền kinh tế sẽ là động lực quan trọng hàng đầu để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn 2019 -2025.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng trình bày 9 nhiệm vụ trọng tâm về cơ cấu lại nền kinh tế trong năm 2019 – 2020 bao gồm:

Thứ nhất, tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo thuận lợi cho quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Nghiên cứu ban hành các chính sách dưỡng sức dân, dưỡng sức doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Nghiên cứu sớm ban hành chính sách cắt giảm hợp lý và mạnh mẽ các loại thuế, phí đối với doanh nghiệp.

Thứ hai, xây dựng thị trường cạnh tranh hiệu quả dựa trên hai trụ cột: Phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn trên cơ sở tạo điều kiện, hỗ trợ phát triển khu vực tư nhân trong nước; Cải cách thể chế về quyền tài sản, trước mắt tập trung các khâu: giải quyết phá sản, đăng ký sở hữu và sử dụng tài sản, xử lý tài sản thế chấp ngân hàng.

Thứ ba, rà soát, hoàn thiện luật pháp về quản lý đất đai để khuyến khích và tạo điều kiện tích tụ đất nông nghiệp; phát triển mạnh thị trường quyền sử dụng đất.

Thứ tư, xây dựng chính sách phát triển và xác định mục tiêu rõ ràng về tăng năng suất và hiệu quả của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.

Thứ năm, hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư. Tập trung đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm, gắn chặt với các ưu tiên về cơ cấu lại nền kinh tế, ưu tiên tối đa đầu tư phát triển hạ tầng và tăng cường vị thế các vùng động lực tăng trưởng.

Thứ sáu, đẩy mạnh cơ cấu lại DNNN, tăng cường chiều sâu và tốc độ cổ phần hóa, nâng cao thực chất trình độ quản trị, tăng cường tính công khai, minh bạch trong quản lý DNNN.

Thứ bảy, đẩy mạnh cơ cấu lại các TCTD, xử lý nợ xấu, xây dựng thị trường vốn nhằm bảo đảm hiệu quả trung gian tài chính, cân bằng giữa phát triển thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Giảm dần tốc độ tăng trưởng tín dụng đến mức phù hợp so với tăng trưởng GDP (tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 14-16% vào năm 2020).

Thứ tám, tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngân sách nhà nước. Kiên quyết chỉ đạo thực hiện để đạt mục tiêu đã xác định “chi thường xuyên dưới 64% tổng chi ngân sách” .

Thứ chín, đề xuất và thực hiện các giải pháp đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0.

Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định, tiền đề của các nhóm giải pháp nêu trên là Chính phủ cần có những biện pháp củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định và thuận lợi cho cơ cấu lại nền kinh tế. Các giải pháp bao gồm: Tập trung quản lý nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; điều hành chủ động, linh hoạt và phối hợp tốt chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách khác, nhất là chính sách điều chỉnh các loại giá, phí do nhà nước quản lý.

Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh chỉ rõ: Kết quả thực hiện các mục tiêu chủ yếu về cơ cấu lại nền kinh tế đến nay cho thấy nhiều kết quả tích cực. Trong số 5 nhóm mục tiêu được xác định tại Nghị quyết số 24, có 4 nhóm mục tiêu liên quan đến cơ cấu lại ngân sách nhà nước và đầu tư công, cải thiện chất lượng tăng trưởng, cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, thị trường tài chính đạt kết quả khả quan. Theo đó, 41% các chỉ tiêu được xác định tại Nghị quyết số 24 dự kiến hoàn thành và 36,4% chỉ tiêu có khả năng hoàn thành đến năm 2020. Khoảng cách về năng lực cạnh tranh của Việt Nam so với bình quân các nước ASEAN-4 có bước thu hẹp, các chỉ tiêu về năng suất và đổi mới công nghệ đều hoàn thành hoặc vượt kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, nhóm mục tiêu về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã khó đạt được đến năm 2020 nếu không có giải pháp đẩy nhanh.

Về phát triển doanh nghiệp, theo Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh, mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 khó hoàn thành, đặc biệt khi việc phát triển doanh nghiệp vẫn tiềm ẩn một số khó khăn và số lượng doanh nghiệp chờ giải thể, phá sản tăng cao trong 9 tháng năm 2018. Về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, đến tháng 7/2018, các bộ, ngành, địa phương mới thực hiện thoái vốn tại 30/316 doanh nghiệp theo kế hoạch đề ra của năm 2017 và 2018. Thời gian tới, việc thoái vốn cần thực hiện thận trọng, trong đó bảo đảm tính đúng, tính đủ giá trị vốn nhà nước trong doanh nghiệp, có kế hoạch cụ thể sử dụng nguồn vốn thu được từ thoái vốn, trong đó ưu tiên vào các công trình quan trọng quốc gia để tạo động lực phát triển và sức lan tỏa cho nền kinh tế.

Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ tiếp tục tháo gỡ các nút thắt về thể chế, nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng; tích cực cải cách thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nâng cao năng lực quản trị quốc gia, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại, tận dụng các cơ hội từ kết quả hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác động lực tăng trưởng nội tại từ các trung tâm kinh tế lớn của đất nước như: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh.

Trình bày Báo cáo thẩm tra về nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, thời gian qua, với sự chủ động tích cực của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội, kỷ luật, kỷ cương trong quản lý đầu tư công đã được tăng cường, cân đối tài chính vĩ mô được giữ vững. Mục tiêu cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công đã đạt được kết quả bước đầu khá tích cực, tỷ trọng đầu tư công giảm xuống mức 34,5% tổng mức đầu tư toàn xã hội. Nguồn vốn đầu tư công đã tập trung bố trí các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm, có tính kết nối và lan tỏa vùng, miền và các dự án thuộc ngành, lĩnh vực mà các thành phần kinh tế khác không muốn đầu tư.

Báo cáo thẩm tra cũng chỉ rõ những tồn tại. Cụ thể: Việc xác định danh mục các dự án đầu tư công theo thứ tự ưu tiên trong kế hoạch đầu tư công trung hạn còn vướng mắc; còn tình trạng đầu tư dàn trải, dở dang; chưa thanh toán hết nợ đọng xây dựng cơ bản. Tỷ lệ giải ngân trong năm 2016, 2017 thấp, nhất là nguồn trái phiếu Chính phủ. Việc xây dựng danh mục đối với nguồn vốn ODA chưa bảo đảm tính chính xác. Nhiều dự án chưa được bố trí đủ nguồn vốn đối ứng; xây dựng kế hoạch chưa bao quát hết các hiệp định đã ký kết, làm tăng áp lực cân đối giữa các nguồn vốn, dẫn đến vượt mức trần 300.000 tỷ đồng vốn ODA trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.

Báo cáo thẩm tra cũng xác định, do tiến độ phân bổ, giao kế hoạch vốn trung hạn, hàng năm chậm, áp lực cân đối nguồn vốn trong 2 năm còn lại là rất lớn, khó có khả năng hoàn thành kế hoạch đặt ra và sẽ phải chuyển một phần vốn Kế hoạch đầu tư công trung hạn sang giai đoạn sau. Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị việc phân bổ phải đảm bảo các nguyên tắc cân đối được nguồn lực toàn giai đoạn, giữ tổng mức đầu tư 2.000.000 tỷ đồng; giữ vững tỷ lệ bội chi, chỉ tiêu an toàn nợ công. Bên cạnh đó, phải tuân thủ đúng Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản pháp luật có liên quan về Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 – 2020 về nguyên tắc, điều kiện, tiêu chí, thứ tự ưu tiên trong phân bổ. Theo đó, tập trung các công trình dở dang, thiếu vốn nhằm hoàn thành dứt điểm, đưa vào sử dụng, tránh kéo dài thời gian thực hiện, khắc phục dàn trải, gây lãng phí trong đầu tư; cân đối vốn ngoài nước, vốn đối ứng cho các dự án ODA; các dự án thực sự cấp bách, có trọng tâm, trọng điểm, mang tính lan tỏa, kết nối vùng, miền, đặc biệt tại những địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; dự án, công trình góp phần đảm bảo an ninh, quốc phòng…

Tiếp đó, Quốc hội đã nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày báo cáo về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương năm 2019; sơ kết 3 năm thực hiện kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia 2016-2020; phân bổ nguồn kinh phí còn lại và chi thường xuyên chưa sử dụng hết năm 2017.

Báo cáo thẩm tra về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2018, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 do Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày nêu rõ: Kết quả thu ngân sách nhà nước năm 2018 ước vượt dự toán, nhưng chưa đạt được một số mục tiêu trong Nghị quyết của Quốc hội như: Tỷ lệ huy động từ thuế, phí đạt 20,7%, thấp hơn mục tiêu 21% đề ra; nợ đọng thuế còn lớn và có xu hướng tăng so với năm 2017; thu nội địa ước vượt 0,9% so với dự toán nhưng thực chất, số thu từ các khu vực doanh nghiệp lại không đạt dự toán. Bên cạnh đó, việc cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước chưa có nhiều chuyển biến rõ rệt, tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi ngân sách nhà nước còn cao. Trong lĩnh vực chi đầu tư phát triển, tình trạng giao vốn đầu tư chưa đúng quy định của pháp luật chưa được khắc phục; tiến độ giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn chậm. Đáng chú ý, một số dự án chưa thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về đầu tư công nên phải điều chỉnh kế hoạch, giao vốn nhiều lần và kéo dài thời gian giao vốn…

Về dự toán thu ngân sách nhà nước, báo cáo thẩm tra chỉ rõ: Năm 2019 là năm thứ 4 liên tiếp trong kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm 2016 – 2020, dự kiến tỷ lệ huy động từ thuế, phí thấp hơn 21% GDP, khả năng hoàn thành mục tiêu theo Nghị quyết số 25/2016/QH14 là khó khăn. Vì thế, Chính phủ cần phân tích kỹ những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này và có biện pháp động viên nguồn thu cao hơn trên cơ sở cơ cấu lại các khoản thu, mở rộng cơ sở thu, đồng thời rà soát các nội dung liên quan đến ưu đãi đầu tư, có biện pháp hiệu quả hơn trong công tác quản lý nguồn thu, chống thất thu.

Với dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2019, theo Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải, nguyên tắc ưu tiên bố trí chi cho các công trình, dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia; chú trọng bố trí chi cho con người, bảo đảm thực hiện các chính sách đã ban hành. Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị Chính phủ rà soát, cơ cấu lại một số khoản chi hợp lý, có kế hoạch, biện pháp thực hành tiết kiệm, cắt, giảm những nhiệm vụ chi không cần thiết, tiết giảm mạnh hơn chi ngân sách; không bố trí kinh phí mua sắm trang thiết bị đắt tiền, xe công; giảm mạnh chi cho khánh tiết, hội nghị, hội thảo, lễ hội.

Đối với vấn đề bội chi và nợ công, Chính phủ dự kiến bội chi năm 2019 khoảng 3,6% GDP; giảm 0,1% GDP so với năm 2018.

Tán thành cơ bản phương án này, Chủ nhiệm Nguyễn Đức Hải đề nghị trong trường hợp thu không đạt dự toán thì phải kiên quyết cắt, giảm nhiệm vụ chi. Trường hợp tăng thu ngân sách thì phải kiên quyết ưu tiên giảm bội chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 24/2016/QH14 về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho biết: Mô hình tăng trưởng đã bước đầu chuyển biến theo hướng tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu thành công kép là vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, vừa thúc đẩy tăng trưởng GDP. Chất lượng tăng trưởng kinh tế đã được cải thiện rõ rệt. Năng suất lao động có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, đồng thời Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng năng suất lao động cao trong khu vực ASEAN. Bình quân 3 năm (2016 – 2018) năng suất lao động tăng 5,62%/năm, cao hơn so với mức tăng bình quân 4,3%/năm của giai đoạn 2011 – 2015 và đạt mục tiêu đề ra (tăng trên 5,5%). Cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp chế biến, chế tạo và giảm tỷ trọng của khai khoáng..

Cũng trong phiên họp chiều nay, các đại biểu Quốc hội cũng nghe Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 – 2020./.

Mạnh Hùng

dangcongsan

digg delicious stumbleupon technorati Google live facebook Sphinn Mixx newsvine reddit yahoomyweb